3 loài cá được mệnh danh thủy quái miền Tây
Do có kích thước khổng lồ, khi xuất hiện gây sóng lớn, quẫy đạp một vùng... nên chúng được mệnh danh "thủy quái" ở miền Tây.
Chúng từng sống nhiều trên dòng Cửu Long nửa thế kỷ trước, song hiện đều nằm trong Sách đỏ vì nguy cơ tuyệt chủng. Sự quý hiếm của chúng khiến nhiều nhà khoa học ở miền Tây vào cuộc nghiên cứu, cho sinh sản nhân tạo để duy trì giống.
Có tên khoa học Pangaius sannitwongsei, cá vồ cờ là loài nước ngọt da trơn khổng lồ có thể dài tới 3 m, nặng 300 kg và rất hung hãn. Tên của nó xuất phát từ chiếc vây trên lưng luôn vươn cao như ngọn cờ, lúc bơi rẽ sóng như cá mập.Cá vồ cờ
Vồ cờ được đánh giá là loài cá nước ngọt khỏe nhất thế giới. Do tình trạng đánh bắt ngày càng cao của người dân, lượng cá vồ cờ ngày càng khan hiếm. Ở Việt Nam nó được Sách đỏ xếp vào danh sách 100 loài động vật có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng nhất thế giới.
Hiện, Việt Nam chỉ ghi nhận còn 5 cá thể vồ cờ đang nuôi tại Trung tâm giống thủy sản nước ngọt Nam bộ (Tiền Giang) với trọng lượng khoảng 20 kg. Đơn vị đang nỗ lực bảo tồn loài cá quý hiếm này bằng cách nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo. Các cán bộ trung tâm từng lặn lội qua Lào và Campuchia nghiên cứu tìm loài cá vồ cờ nhưng không thành công.
Cá tra dầu
Phân bố chủ yếu ở hạ lưu sông Mekong, cá tra dầu có tên khoa học là Pangasianodon gigas và cũng có kích thước, trọng lượng tương đương loài vồ cờ.
Cá tra dầu nằm trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới, được xếp hạng cực kỳ nguy cấp (nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao). Loài này có đầu to, dẹp, miệng rộng với 2 râu dài ở hàm trên. Lưng cá màu nâu thẫm, vây nhạt hơn. Chúng tuy lớn nhưng chỉ ăn thực vật thủy sinh.
Hồi cuối năm 2015, ngư dân tỉnh An Giang bắt được cá tra dầu nặng 100 kg ở sông Mekong, đoạn giáp Campuchia. Nó được chủ nhà hàng ở Cần Thơ mua với giá 40 triệu đồng.Thời gian gần đây việc phát hiện cá tra dầu ở Việt Nam rất hiếm, các nhà hàng ở TP HCM, miền Tây chủ yếu mua lại từ Campuchia. Còn tại Lào đã có lệnh cấm săn bắt loài cá này.
Năm ngoái, con cá tra dầu dài 2 m, nặng 230 kg được ngư dân Campuchia bắt được, sau đó bán cho nhà hàng tại An Giang giá 1,2 triệu một kg.
Cá hô
Có tên khoa học là Catlocarpio siamensis, cá hô là loài lớn nhất trong họ Chép, đầu khá to so với thân, thường sống ở các sông Mae Klong, Mekong và Chao Phraya ở Đông Nam Á. Từng có con nặng gần 600 kg, dài hơn 3 m được phát hiện.
Ở Campuchia, cá hô được phong làm cá quốc gia. Tại miền Tây, những con cá hô nặng 130 kg được ngư dân bắt trên dòng Cửu Long, thường vào khoảng tháng 10. Chúng được thương lái mua với giá hàng trăm triệu đồng, mang về Cần Thơ, An Giang, Sài Gòn… phục vụ thực khách.
Đặc biệt, năm 2015, ngư dân ở TP HCM bắt được cá hô nặng 128 kg tại nhánh sông Đồng Nai, bán được gần 200 triệu đồng. Việc bắt được cá hô là rất hiếm bởi ngoài tự nhiên chúng đang dần tuyệt chủng.
Hiện ở Việt Nam có 2 trung tâm nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo thành công cá hô để nuôi thương phẩm đạt 7-10 kg có thể xuất bán.Cá hô sống tại những hố lớn cạnh bờ sông, chúng cũng có thể bơi vào những kênh, rạch... để kiếm thức ăn. Đây là một loài cá di cư, chúng di chuyển không nhanh, thường ăn rong, hoa quả. xem thêm>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
-----------------------------------------------------------
“Treo cổ trâu, chém lợn...trong lễ hội là những hành vi man rợ“
Nhà nghiên cứu văn hóa Bùi Trọng Hiền, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã có cuộc trao đổi thẳng thắn với phóng viên VOV.VN về việc phục dựng lễ hội hiện nay.
PV: Tục chém đầu lợn, treo cổ trâu hay mới đây là việc một sư thầy ném lộc, dưới con mắt của một chuyên gia nghiên cứu văn hóa, ông bình luận gì về những hình ảnh này?
Ông Bùi Trọng Hiền: Ở góc độ giáo lý của đạo Phật, rõ ràng đây là những hình ảnh phản cảm, đi ngược lại với nguyên tắc của giáo lý nhà Phật. Đức phật Thích Ca khi sáng tạo ra đạo Phật đã lấy căn cốt, của giáo lý là rời bỏ ham muốn trần tục.
Hành vi ném lộc, góp phần kích động cả một đám đông, dẫn đến sự chen lẫn, tranh cướp của sư thầy hoàn toàn đi ngược lại tôn chỉ của Phật giáo. Đáng tiếc hơn, hành vi này được đưa vào cửa chùa, xảy ra ngay giữa sân chùa.
Thuyết luân hồi nhân quả dạy con người phải làm việc tốt, hành xử thánh thiện, đó là cách tu tâm tích đức tốt nhất.
Phật giáo không dạy con người tham lam giống như việc cướp lộc hay việc “ban tài phát lộc” giống như các chân đồng tứ phủ.
Chiếc vòng lưu niệm, khi in hình tượng Phật lên đó, cả người xin lẫn người cho cần thể hiện sự tôn kính chứ không ai cầm tượng Phật để ném như thế!
Việc sư thầy cầm tượng phật ném nào dân gian là hành vi rất hoang dã.
PV: Những hình ảnh đó bộc lộ điều gì, thưa ông?
Ông Bùi Trọng Hiền: Hành vi đó là biểu hiện sống động của đời sống Phật giáo ngày nay. Khác với Phật giáo nguyên thủy, của giáo lý tín ngưỡng.
Vài chục năm trở lại đây, nhiều nhà sư có những hành động phản cảm. Người thì mua ô tô, uống rượu thịt chó trong chùa, đắp điếm xây chùa thật to. Đỉnh điểm của sự biến tướng chính là hành vi cúng sao giải hạn.
Trong giáo lý Phật giáo không có dâng sao giải hạn, mà chỉ dạy con người tu tâm, tích đức, làm việc thiện, có tâm tốt mới có quả tốt. Không thể bỏ tiền ra để thay đổi số phận. Thực chất hành vi cúng sao giải hạn chính là bỏ tiền ra, nhờ thầy cúng để thay đổi được số phận.
Về mặt xã hội, hành vi này đã thương mại hóa tâm linh. Đối với giáo lý nhà Phật thì đây là điều hoàn toàn nhảm nhí. Người giàu có thể dùng tiền “giải hạn” để thay đổi số phận còn người nghèo không có tiền giải hạn thì sẽ gặp tai ương? Điều này hoàn toàn không có cơ sở. Nếu ai đó tin rằng càng cúng nhiều càng khỏe, càng giàu thì đây là tư tưởng hoang đường, lạc hậu, nhà Phật gọi là dị giáo. Hiện tượng các ngôi chùa cúng sao giải hạn, lấy tiền thiên hạ chính là sự biến tướng của Phật giáo.
PV: Những hành vi như chém đầu lợn, treo đầu trâu là sự biến tượng hay là nét nguyên thủy có trong các lễ hội, cổ tục?
Ông Bùi Trọng Hiền: Hành vi đả thương, giết con vật đều là cổ tục nguyên bản. Nhưng ở thời xưa, người ta xem đó là chuyện bình thường. Còn trong xã hội văn minh và hiện đại ngày nay, việc đâm, chém, giết con vật đã không còn phù hợp.
Thế giới đang kêu gọi bảo vệ động vật. Cho nên việc làm sống dậy các tục lễ đâm giết các con vật đã đi lại với xu thế phát triển chung của văn minh con người. Đó là hành vi man rợ.
PV: Vậy sự biến tướng của các lễ hội xuất phát từ đâu, thưa ông?
Ông Bùi Trọng Hiền: Một phần xuất phát từ công cuộc phục hồi các lễ hội của các chuyên gia văn hóa. Công tác phục dựng các lễ hội đã bị làm quá đà. Vô số các lễ hội đã được phục hồi và hầu hết trong đó đều có hành vi giết con vật, được làm sống dậy một cách nguyên vẹn. Đấy là một nghịch lý lớn mà tất cả chúng ta đang phải đối mặt.
PV: Vậy các nhà quản lý, tổ chức cần làm gì để tránh được những hình ảnh phản cảm trong lễ hội?
Ông Bùi Trọng Hiền: Điều này là rất khó vì chúng ta đã lỡ phục dựng rồi, bây giờ mà bỏ là rất khó. Sai lầm lớn nhất là chúng ta đã phục dựng một cách tràn lan và không có lựa chọn.
Chuyện đả thương để có được bông tre có từ thời cổ trong Hội Gióng, chuyện chém đầu lợn hay treo cổ trâu, hoàn toàn là những cổ tục được phục dựng. Theo quan niệm của các cụ, hành vi “đả thương” sẽ mang lại tính chất thiêng liêng cho lễ hội. Thậm chí, nếu trong lễ hội đó có “đả thương” mà xảy ra án mạng thì quan cũng bỏ qua không xét xử.
Nhưng đó là trong xã hội phong kiến. Còn bây giờ, rõ ràng nếu xảy ra điều đó nghĩa là xâm phạm quyền con người, vi phạm pháp luật.
Vấn đề nằm ở chỗ, chúng ta đã trót tôn vinh các lễ hội đó, trót khuyến khích cộng đồng quay lại phục dựng lễ hội. Các lễ hội đó còn được núp dưới một "lá kim bài" là “di sản thế giới”. Tục “đả thương” trong Hội Gióng được nằm trong một quần thể đó là Hội Gióng và đã được UNESCO công nhận là Di sản phi vật thể thế giới, cần bảo tồn và giữ gìn.
Đã có ý kiến là cần lược bỏ hành vi "đả thương" nhưng như thế thì Hội Gióng không còn là Hội Gióng. Và người dân địa phương chắc chắn sẽ không đồng ý với việc lược bỏ một phong tục trong lễ hội. Họ cho rằng lược bỏ cổ tục sẽ làm mất tính thiêng.
Tâm tính tiểu nông của người Việt vẫn rất thích oai. Họ tự hào khi làng mình có tục lệ khác hẳn với làng khác và xem đó là sự độc đáo, khác biệt.
PV: Trào lưu phục dựng lễ hội bắt đầu từ đâu, thưa ông?
Ông Bùi Trọng Hiền: Sau năm 1954, chúng ta đã cắt bỏ gần như hết tất cả các lễ hội. Và gần như hội hè đã biến mất trong đời sống người dân Việt hàng chục năm. Nhưng từ năm 1990, các nhà nghiên cứu như chúng tôi bắt đầu đi sưu tầm, tổ chức, phục dựng theo một xu hướng về nguồn. Trong quá trình đó, chúng ta chủ trương càng tái hiện nguyên vẹn càng tốt.
Ngay khi nhận ra các lễ hội, cổ tục đã được phục dựng quá đà. Chính chúng tôi cũng cảm thấy có lỗi khi chứng kiến cảnh nhiều người rơi vào tình trạng mê tín dị đoan, cúng bái quần quật.
Nhìn ra thế giới mới thấy chúng ta đang càng ngày càng lạc hậu về mặt tâm linh.
PV: Một người từng góp phần phục dựng lễ hội nay lại cảm thấy có lỗi, ý kiến này của ông đã được nói ra ở cuộc hội thảo nào về văn hóa chưa?
Ông Bùi Trọng Hiền: Tôi nói rất nhiều nhưng việc ai nói cứ nói, người làm cứ làm. Bởi việc phục dựng lễ hội có lợi cho rất nhiều người, nhiều cấp, ngành.
Phục dựng lễ hội có tôn chỉ rất rõ đó là thu hút du lịch tâm linh. Chính các nhà quản lý đang đề ra khẩu hiệu đó. Và đã là du lịch nghĩa là thương mại hóa tâm linh, biến tâm linh thành một thứ hàng hóa.
Cho nên tôi phản đối khái niệm du lịch tâm linh. Tôi sợ đi lễ hội. Bởi tất cả các lễ hội phục dựng đều đơn điệu và na ná nhau, từ quần áo đến nghi thức.
Căn cốt tiểu nông của người Việt là Thánh làng nào làng ấy thờ, Chùa làng nào làng ấy giữ. Điều này thể hiện sự chia nhỏ, tiểu mục, không có hệ tư tưởng tâm linh lớn mà chỉ gói gọn trong lũy tre làng.
Tâm lý đám đông cũng là một phần nguyên nhân gây nên sự biến tướng trong lễ hội. Dân trí thấp, hiểu biết hạn chế thì sự chi phối đó càng mạnh.
Tục đốt vàng mã, ngày xưa được cho là nhảm nhí thì nay chúng ta lại tôn sùng. Theo tích cổ của Trung Quốc, câu chuyện này xuất phát từ một truyện cười dân gian. Một người bán giấy vì ế khách nên đã nghĩ kế giả chết. Trước khi “giả chết”, anh ta vẽ rất nhiều tiền giấy và dặn vợ mang ra đốt dưới chân quan tài. Khi người vợ châm lửa đốt “tiền giấy” thì người chồng sống lại. Nhiều người đi qua thấy vậy và họ tin vào câu chuyện “đốt nhiều tiền giấy” thì người chết sẽ sống lại. xem thêm>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
--------------------------------------------------------------------
Người phụ nữ Canada bị bắt vì giấu xác 6 con đẻ
"Những đứa trẻ này dường như đều còn sống lúc được sinh ra. Không có gì cho thấy có biến chứng thai sản", AFP dẫn lời thẩm phán Murray Thompson hôm nay nói về nữ nghi phạm Andrea Giesbrecht.
Kết quả xét nghiệm DNA cho thấy nghi phạm 42 tuổi ở thành phố Winnipeg, Canada là mẹ của cả 6 trẻ sơ sinh.
Trong phiên tòa trước đó diễn ra tháng 4/2016, Giesbrecht không nhận tội. Thẩm phán Thompson tuyên bố Giesbrecht phạm tội 6 lần về việc giấu xác trẻ sơ sinh. Mỗi trường hợp trẻ sơ sinh thiệt mạng bị tìm thấy có thể dẫn tới việc nghi phạm bị hai năm tù.
Giesbrecht không bị buộc tội giết người. Hài cốt của trẻ sơ sinh được phát hiện trong điều kiện xấu nên giới chức Canada không thể xác định nguyên nhân cái chết.
Một trong các phần thi thể được tìm thấy dưới nền xi măng, bị bao phủ bởi bột màu trắng.
Các thi thể bị phát hiện sau khi Giesbrecht không thể trả tiền cho nhà kho mà người này đã thuê. xem thêm>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
Do có kích thước khổng lồ, khi xuất hiện gây sóng lớn, quẫy đạp một vùng... nên chúng được mệnh danh "thủy quái" ở miền Tây.
Chúng từng sống nhiều trên dòng Cửu Long nửa thế kỷ trước, song hiện đều nằm trong Sách đỏ vì nguy cơ tuyệt chủng. Sự quý hiếm của chúng khiến nhiều nhà khoa học ở miền Tây vào cuộc nghiên cứu, cho sinh sản nhân tạo để duy trì giống.
Có tên khoa học Pangaius sannitwongsei, cá vồ cờ là loài nước ngọt da trơn khổng lồ có thể dài tới 3 m, nặng 300 kg và rất hung hãn. Tên của nó xuất phát từ chiếc vây trên lưng luôn vươn cao như ngọn cờ, lúc bơi rẽ sóng như cá mập.Cá vồ cờ
Vồ cờ được đánh giá là loài cá nước ngọt khỏe nhất thế giới. Do tình trạng đánh bắt ngày càng cao của người dân, lượng cá vồ cờ ngày càng khan hiếm. Ở Việt Nam nó được Sách đỏ xếp vào danh sách 100 loài động vật có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng nhất thế giới.
Hiện, Việt Nam chỉ ghi nhận còn 5 cá thể vồ cờ đang nuôi tại Trung tâm giống thủy sản nước ngọt Nam bộ (Tiền Giang) với trọng lượng khoảng 20 kg. Đơn vị đang nỗ lực bảo tồn loài cá quý hiếm này bằng cách nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo. Các cán bộ trung tâm từng lặn lội qua Lào và Campuchia nghiên cứu tìm loài cá vồ cờ nhưng không thành công.
Cá tra dầu
Phân bố chủ yếu ở hạ lưu sông Mekong, cá tra dầu có tên khoa học là Pangasianodon gigas và cũng có kích thước, trọng lượng tương đương loài vồ cờ.
Cá tra dầu nằm trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới, được xếp hạng cực kỳ nguy cấp (nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao). Loài này có đầu to, dẹp, miệng rộng với 2 râu dài ở hàm trên. Lưng cá màu nâu thẫm, vây nhạt hơn. Chúng tuy lớn nhưng chỉ ăn thực vật thủy sinh.
Hồi cuối năm 2015, ngư dân tỉnh An Giang bắt được cá tra dầu nặng 100 kg ở sông Mekong, đoạn giáp Campuchia. Nó được chủ nhà hàng ở Cần Thơ mua với giá 40 triệu đồng.Thời gian gần đây việc phát hiện cá tra dầu ở Việt Nam rất hiếm, các nhà hàng ở TP HCM, miền Tây chủ yếu mua lại từ Campuchia. Còn tại Lào đã có lệnh cấm săn bắt loài cá này.
Năm ngoái, con cá tra dầu dài 2 m, nặng 230 kg được ngư dân Campuchia bắt được, sau đó bán cho nhà hàng tại An Giang giá 1,2 triệu một kg.
Cá hô
Có tên khoa học là Catlocarpio siamensis, cá hô là loài lớn nhất trong họ Chép, đầu khá to so với thân, thường sống ở các sông Mae Klong, Mekong và Chao Phraya ở Đông Nam Á. Từng có con nặng gần 600 kg, dài hơn 3 m được phát hiện.
Ở Campuchia, cá hô được phong làm cá quốc gia. Tại miền Tây, những con cá hô nặng 130 kg được ngư dân bắt trên dòng Cửu Long, thường vào khoảng tháng 10. Chúng được thương lái mua với giá hàng trăm triệu đồng, mang về Cần Thơ, An Giang, Sài Gòn… phục vụ thực khách.
Đặc biệt, năm 2015, ngư dân ở TP HCM bắt được cá hô nặng 128 kg tại nhánh sông Đồng Nai, bán được gần 200 triệu đồng. Việc bắt được cá hô là rất hiếm bởi ngoài tự nhiên chúng đang dần tuyệt chủng.
Hiện ở Việt Nam có 2 trung tâm nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo thành công cá hô để nuôi thương phẩm đạt 7-10 kg có thể xuất bán.Cá hô sống tại những hố lớn cạnh bờ sông, chúng cũng có thể bơi vào những kênh, rạch... để kiếm thức ăn. Đây là một loài cá di cư, chúng di chuyển không nhanh, thường ăn rong, hoa quả. xem thêm>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
-----------------------------------------------------------
“Treo cổ trâu, chém lợn...trong lễ hội là những hành vi man rợ“
Nhà nghiên cứu văn hóa Bùi Trọng Hiền, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã có cuộc trao đổi thẳng thắn với phóng viên VOV.VN về việc phục dựng lễ hội hiện nay.
PV: Tục chém đầu lợn, treo cổ trâu hay mới đây là việc một sư thầy ném lộc, dưới con mắt của một chuyên gia nghiên cứu văn hóa, ông bình luận gì về những hình ảnh này?
Ông Bùi Trọng Hiền: Ở góc độ giáo lý của đạo Phật, rõ ràng đây là những hình ảnh phản cảm, đi ngược lại với nguyên tắc của giáo lý nhà Phật. Đức phật Thích Ca khi sáng tạo ra đạo Phật đã lấy căn cốt, của giáo lý là rời bỏ ham muốn trần tục.
Hành vi ném lộc, góp phần kích động cả một đám đông, dẫn đến sự chen lẫn, tranh cướp của sư thầy hoàn toàn đi ngược lại tôn chỉ của Phật giáo. Đáng tiếc hơn, hành vi này được đưa vào cửa chùa, xảy ra ngay giữa sân chùa.
Thuyết luân hồi nhân quả dạy con người phải làm việc tốt, hành xử thánh thiện, đó là cách tu tâm tích đức tốt nhất.
Phật giáo không dạy con người tham lam giống như việc cướp lộc hay việc “ban tài phát lộc” giống như các chân đồng tứ phủ.
Chiếc vòng lưu niệm, khi in hình tượng Phật lên đó, cả người xin lẫn người cho cần thể hiện sự tôn kính chứ không ai cầm tượng Phật để ném như thế!
Việc sư thầy cầm tượng phật ném nào dân gian là hành vi rất hoang dã.
PV: Những hình ảnh đó bộc lộ điều gì, thưa ông?
Ông Bùi Trọng Hiền: Hành vi đó là biểu hiện sống động của đời sống Phật giáo ngày nay. Khác với Phật giáo nguyên thủy, của giáo lý tín ngưỡng.
Vài chục năm trở lại đây, nhiều nhà sư có những hành động phản cảm. Người thì mua ô tô, uống rượu thịt chó trong chùa, đắp điếm xây chùa thật to. Đỉnh điểm của sự biến tướng chính là hành vi cúng sao giải hạn.
Trong giáo lý Phật giáo không có dâng sao giải hạn, mà chỉ dạy con người tu tâm, tích đức, làm việc thiện, có tâm tốt mới có quả tốt. Không thể bỏ tiền ra để thay đổi số phận. Thực chất hành vi cúng sao giải hạn chính là bỏ tiền ra, nhờ thầy cúng để thay đổi được số phận.
Về mặt xã hội, hành vi này đã thương mại hóa tâm linh. Đối với giáo lý nhà Phật thì đây là điều hoàn toàn nhảm nhí. Người giàu có thể dùng tiền “giải hạn” để thay đổi số phận còn người nghèo không có tiền giải hạn thì sẽ gặp tai ương? Điều này hoàn toàn không có cơ sở. Nếu ai đó tin rằng càng cúng nhiều càng khỏe, càng giàu thì đây là tư tưởng hoang đường, lạc hậu, nhà Phật gọi là dị giáo. Hiện tượng các ngôi chùa cúng sao giải hạn, lấy tiền thiên hạ chính là sự biến tướng của Phật giáo.
PV: Những hành vi như chém đầu lợn, treo đầu trâu là sự biến tượng hay là nét nguyên thủy có trong các lễ hội, cổ tục?
Ông Bùi Trọng Hiền: Hành vi đả thương, giết con vật đều là cổ tục nguyên bản. Nhưng ở thời xưa, người ta xem đó là chuyện bình thường. Còn trong xã hội văn minh và hiện đại ngày nay, việc đâm, chém, giết con vật đã không còn phù hợp.
Thế giới đang kêu gọi bảo vệ động vật. Cho nên việc làm sống dậy các tục lễ đâm giết các con vật đã đi lại với xu thế phát triển chung của văn minh con người. Đó là hành vi man rợ.
PV: Vậy sự biến tướng của các lễ hội xuất phát từ đâu, thưa ông?
Ông Bùi Trọng Hiền: Một phần xuất phát từ công cuộc phục hồi các lễ hội của các chuyên gia văn hóa. Công tác phục dựng các lễ hội đã bị làm quá đà. Vô số các lễ hội đã được phục hồi và hầu hết trong đó đều có hành vi giết con vật, được làm sống dậy một cách nguyên vẹn. Đấy là một nghịch lý lớn mà tất cả chúng ta đang phải đối mặt.
PV: Vậy các nhà quản lý, tổ chức cần làm gì để tránh được những hình ảnh phản cảm trong lễ hội?
Ông Bùi Trọng Hiền: Điều này là rất khó vì chúng ta đã lỡ phục dựng rồi, bây giờ mà bỏ là rất khó. Sai lầm lớn nhất là chúng ta đã phục dựng một cách tràn lan và không có lựa chọn.
Chuyện đả thương để có được bông tre có từ thời cổ trong Hội Gióng, chuyện chém đầu lợn hay treo cổ trâu, hoàn toàn là những cổ tục được phục dựng. Theo quan niệm của các cụ, hành vi “đả thương” sẽ mang lại tính chất thiêng liêng cho lễ hội. Thậm chí, nếu trong lễ hội đó có “đả thương” mà xảy ra án mạng thì quan cũng bỏ qua không xét xử.
Nhưng đó là trong xã hội phong kiến. Còn bây giờ, rõ ràng nếu xảy ra điều đó nghĩa là xâm phạm quyền con người, vi phạm pháp luật.
Vấn đề nằm ở chỗ, chúng ta đã trót tôn vinh các lễ hội đó, trót khuyến khích cộng đồng quay lại phục dựng lễ hội. Các lễ hội đó còn được núp dưới một "lá kim bài" là “di sản thế giới”. Tục “đả thương” trong Hội Gióng được nằm trong một quần thể đó là Hội Gióng và đã được UNESCO công nhận là Di sản phi vật thể thế giới, cần bảo tồn và giữ gìn.
Đã có ý kiến là cần lược bỏ hành vi "đả thương" nhưng như thế thì Hội Gióng không còn là Hội Gióng. Và người dân địa phương chắc chắn sẽ không đồng ý với việc lược bỏ một phong tục trong lễ hội. Họ cho rằng lược bỏ cổ tục sẽ làm mất tính thiêng.
Tâm tính tiểu nông của người Việt vẫn rất thích oai. Họ tự hào khi làng mình có tục lệ khác hẳn với làng khác và xem đó là sự độc đáo, khác biệt.
PV: Trào lưu phục dựng lễ hội bắt đầu từ đâu, thưa ông?
Ông Bùi Trọng Hiền: Sau năm 1954, chúng ta đã cắt bỏ gần như hết tất cả các lễ hội. Và gần như hội hè đã biến mất trong đời sống người dân Việt hàng chục năm. Nhưng từ năm 1990, các nhà nghiên cứu như chúng tôi bắt đầu đi sưu tầm, tổ chức, phục dựng theo một xu hướng về nguồn. Trong quá trình đó, chúng ta chủ trương càng tái hiện nguyên vẹn càng tốt.
Ngay khi nhận ra các lễ hội, cổ tục đã được phục dựng quá đà. Chính chúng tôi cũng cảm thấy có lỗi khi chứng kiến cảnh nhiều người rơi vào tình trạng mê tín dị đoan, cúng bái quần quật.
Nhìn ra thế giới mới thấy chúng ta đang càng ngày càng lạc hậu về mặt tâm linh.
PV: Một người từng góp phần phục dựng lễ hội nay lại cảm thấy có lỗi, ý kiến này của ông đã được nói ra ở cuộc hội thảo nào về văn hóa chưa?
Ông Bùi Trọng Hiền: Tôi nói rất nhiều nhưng việc ai nói cứ nói, người làm cứ làm. Bởi việc phục dựng lễ hội có lợi cho rất nhiều người, nhiều cấp, ngành.
Phục dựng lễ hội có tôn chỉ rất rõ đó là thu hút du lịch tâm linh. Chính các nhà quản lý đang đề ra khẩu hiệu đó. Và đã là du lịch nghĩa là thương mại hóa tâm linh, biến tâm linh thành một thứ hàng hóa.
Cho nên tôi phản đối khái niệm du lịch tâm linh. Tôi sợ đi lễ hội. Bởi tất cả các lễ hội phục dựng đều đơn điệu và na ná nhau, từ quần áo đến nghi thức.
Căn cốt tiểu nông của người Việt là Thánh làng nào làng ấy thờ, Chùa làng nào làng ấy giữ. Điều này thể hiện sự chia nhỏ, tiểu mục, không có hệ tư tưởng tâm linh lớn mà chỉ gói gọn trong lũy tre làng.
Tâm lý đám đông cũng là một phần nguyên nhân gây nên sự biến tướng trong lễ hội. Dân trí thấp, hiểu biết hạn chế thì sự chi phối đó càng mạnh.
Tục đốt vàng mã, ngày xưa được cho là nhảm nhí thì nay chúng ta lại tôn sùng. Theo tích cổ của Trung Quốc, câu chuyện này xuất phát từ một truyện cười dân gian. Một người bán giấy vì ế khách nên đã nghĩ kế giả chết. Trước khi “giả chết”, anh ta vẽ rất nhiều tiền giấy và dặn vợ mang ra đốt dưới chân quan tài. Khi người vợ châm lửa đốt “tiền giấy” thì người chồng sống lại. Nhiều người đi qua thấy vậy và họ tin vào câu chuyện “đốt nhiều tiền giấy” thì người chết sẽ sống lại. xem thêm>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
--------------------------------------------------------------------
Người phụ nữ Canada bị bắt vì giấu xác 6 con đẻ
"Những đứa trẻ này dường như đều còn sống lúc được sinh ra. Không có gì cho thấy có biến chứng thai sản", AFP dẫn lời thẩm phán Murray Thompson hôm nay nói về nữ nghi phạm Andrea Giesbrecht.
Kết quả xét nghiệm DNA cho thấy nghi phạm 42 tuổi ở thành phố Winnipeg, Canada là mẹ của cả 6 trẻ sơ sinh.
Trong phiên tòa trước đó diễn ra tháng 4/2016, Giesbrecht không nhận tội. Thẩm phán Thompson tuyên bố Giesbrecht phạm tội 6 lần về việc giấu xác trẻ sơ sinh. Mỗi trường hợp trẻ sơ sinh thiệt mạng bị tìm thấy có thể dẫn tới việc nghi phạm bị hai năm tù.
Giesbrecht không bị buộc tội giết người. Hài cốt của trẻ sơ sinh được phát hiện trong điều kiện xấu nên giới chức Canada không thể xác định nguyên nhân cái chết.
Một trong các phần thi thể được tìm thấy dưới nền xi măng, bị bao phủ bởi bột màu trắng.
Các thi thể bị phát hiện sau khi Giesbrecht không thể trả tiền cho nhà kho mà người này đã thuê. xem thêm>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét